1 - Nước Mắm là gì?
"Nước mắm" là
"chất nước rỉ từ cá, tôm và một số động vật nước khác được ướp muối lâu ngày".
Nước mắm được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực của các quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam và Thái Lan, để làm nước chấm hoặc gia vị chế biến các món ăn.
Hình 1: Nước Mắm là gì?
1.1 - Cách làm Nước Mắm là gì?
Nước mắm có thể làm từ cá sống, cá khô; hoặc từ cả các loại sò hến, tôm cua hoặc trái cây như quả điều khi làm nước mắm chay. Một số loại nước mắm được làm từ cá nguyên con, một số khác thì chỉ được từ tiết hay nội tạng cá.Một số loại nước mắm chỉ có cá và muối, một số khác có thể có thêm dược thảo và gia vị.
Nước mắm lên men ngắn ngày có mùi tanh đặc trưng của cá. Quá trình lên men dài ngày sẽ giảm được mùi tanh và tạo ra hương vị mùi quả hạch và béo hơn.
Tại miền nam Trung Quốc,
nước mắm cũng được sử dụng, nhưng chỉ dùng để làm dầu hay gia vị trong các món súp và thịt hầm. Trên phương diện khoa học,
nước mắm là hỗn hợp muối với các axit amin được chuyển biến từ protein trong thịt cá qua một quá trình thuỷ phân có tác nhân là các hệ enzyme có sẵn trong ruột cá cùng với một loại vi khuẩn kỵ khí chịu mặn.
Có thể nói Việt Nam từ thời xa xưa đã là xứ sở của các loại
mắm. Từ
mắm nêm,
mắm phệt,
mắm ruốc,
mắm tôm đến các loại
mắm lóc,
mắm sặt, khô mắm, khô mặn cho đến
loại mắm đặc biệt là
mắm nước thường được gọi là
nước mắm. 1.2 - Nước mắm ở châu Á
Nước mắm châu Á thường được chế biến từ cá cơm, muối, và nước, và cần được tiêu thụ điều độ vì nó có vị rất mạnh.
Nước mắm Thái Lan rất giống
mắm Việt Nam và được gọi là nam pla (น้ำปลา). Tại Trung Quốc, nó được gọi là ngư lộ (魚露, yúlù), tại Triều Tiên yeotgal (엿갈), tại Indonesia kecap ikan và tại Philippines patis.
Tại Nhật Bản, ba
loại mắm được sử dụng; shottsuru(しょっつる) ở tỉnh Akita, ishiru(いしる) ở tỉnh Ishikawa, và ikanago-jōyu(いかなご醤油) ở tỉnh Kagawa. Bã cá giống
mắm ở Indonesia được gọi là trasi, tại Campuchia prahok (Bò hóc) và thường dùng cá đã để hơi ươn trước khi ướp muối. Người Mã Lai cũng có cục gạnh cá gọi là belacan.
Mắm Lào được gọi là padek, được chế biến từ cá nước ngọt.
Hình 2: Nước mắm ở châu Á
1.3 - Nước Mắm ở Phương Tây
Có một loại
nước mắm cũng đã từng phổ biến ở thời La Mã cổ đại, tiếng Latin gọi là garum hoặc liquamen, và cũng tồn tại trong nhiều loại
nước chấm như oxygarum (pha với giấm), meligarum (pha với mật ong).
Nước mắm cũng là một trong những đặc sản ở vùng Hispania Baetica.
Trong tiếng Anh, nó được gọi là fish sauce.
Nước chấm Worcestershire ở Anh là một sản phẩm tương tự, loại nước chấm này được mang từ Ấn Độ sang Anh Quốc. Ngày nay, người ta dùng cá trống để làm garum, nhưng không được lên men.
1.4 - Nước mắm ở Việt Nam
Tại Việt Nam, các vùng miền duyên hải đều
làm nước mắm.
Nước mắm thường chủ yếu làm từ các loại cá biển (cá cơm, cá thu, cá nục) và rút chiết ra dưới dạng nước. Tùy theo độ đạm trong
nước mắm mà người ta phân cấp độ (
nước mắm cốt,
nước mắm loại 1,
nước mắm loại 2).
Một số thương hiệu xuất xứ nổi tiếng của
nước mắm có thể kể đến như
Nước mắm Phan Thiết (Bình Thuận),
nước mắm Liên Thành (Bình Thuận),
Nước mắm Phú Quốc (Kiên Giang),
Nước mắm Nha Trang (Khánh Hòa),
Nước mắm Cát Hải (Hải Phòng).
Chén nước mắm dùng chung giữa mâm cơm được coi là nét đặc trưng cho văn hoá chia sẻ trong ẩm thực Việt Nam.
1.5 - Quy trình sản xuất Nước Mắm truyền thống là gì?
Cách chế biến
nước mắm truyền thống của người Việt là
ủ chượp theo phương pháp gài nén. Cá được trộn đều với muối ăn theo tỷ lệ xấp xỉ 3:1 (gọi là chượp) rồi cho vào thùng gỗ lớn, dung tích thường dùng từ 2.5 - 8 m³, rồi rải muối gài nẹp đè đá bên trên để nén. Sau 2-4 ngày thì mở nút lù dưới đáy thùng để hứng
"nước bổi".
Nội dung trong
thùng chượp sau khi ra rút nước bổi sẽ xẹp xuống, nút lù được đóng lại và ủ từ 7-12 tháng. Khi
chượp chín,
nước mắm hình thành trong suốt, có màu từ vàng rơm đến cánh gián, mất mùi tanh và thay vào đó có mùi thơm đặc trưng, được rút đợt đầu gọi là nước cốt. Phần cốt còn lại được cho nước bổi vào, thêm muối lên men tiếp rồi rút tiếp nước hai.
Ở một số địa phương miền Bắc, như Cát Hải - Hải Phòng, cách chế biến phổ biến là đánh khuấy, theo đó cá trước khi
trộn chượp có thể đập dập, sau thời gian khoảng 3 tháng thì đánh
khuấy chượp để tăng tốc độ chín. Phương pháp này rút ngắn thời gian
ủ chượp xuống 6-7 tháng, nhưng chỉ cho
nước mắm có độ đạm thấp hơn phương pháp truyền thống.
1.6 - Ðánh giá chất lượng của Nước Mắm
Tiêu chí truyền thống để đánh giá chất lượng
nước mắm nguyên chất là độ đạm - đạm tạo nên hậu vị ngòn ngọt đằng sau vị mặn của muối. Nếu muối có nhiều tạp thì
nước mắm thường có vị chát, vị khé. Nên
nước mắm ngon trước hết phải có vị mặn không chát kèm theo hậu vị đạm cao, sau đó phải có mùi đặc trưng mà không tanh, không thối.
Hình 3: Ðánh giá chất lượng của Nước Mắm
Kết Luận: "Nước mắm" là "chất nước rỉ từ cá, tôm và một số động vật nước khác được ướp muối lâu ngày". Nước mắm được sử dụng rộng rãi trong ẩm thực của các quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam và Thái Lan, để làm nước chấm hoặc gia vị chế biến các món ăn.

Xem thêm chuyên mục:
Blog Kiến Thức
Sau bao lần thiết kế Website tại các đơn vị khác không vừa ý vì không làm được chức năng đặt hàng và giao nhận hàng cho tôi. Tôi tìm đến VietWeb làm việc trực tiếp CEO VietWeb, tôi rất ưng ý vì bạn ấy rất nhiệt tình tư vấn cho tôi. Kỹ thuật VietWeb chăm sóc tôi rất tận tình làm website để tôi đi vào hoạt động trong 5 năm qua. Cảm ơn các bạn!