1 - Vật Lý là gì?
"Vật lý học".Tiếng Anh có nghĩa
"Physics", từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là
"kiến thức về tự nhiên" là một môn khoa học tự nhiên tập trung vào sự nghiên cứu vật chất và chuyển động của nó trong không gian và thời gian, cùng với những khái niệm liên quan như năng lượng và lực.
Vật lý ra đời từ rất lâu giúp con người giải thích những hiện tượng xuất hiện trong cuộc sống một cách khoa học và rỏ ràng nhất.
Hình 1: Vật Lý là gì? 1.1 - Nguồn gốc ra đời và sự phát triển của Vật Lý là gì?
Một cách rộng hơn, nó là sự phân tích tổng quát về tự nhiên, được thực hiện để hiểu được cách biểu hiện của vũ trụ.
Vật lý là một trong những ngành hàn lâm sớm nhất, và có lẽ là sớm nhất khi tính chung với thiên văn học.
Trong hai thiên niên kỷ vừa qua,
vật lý là một phần của triết học tự nhiên cùng với hóa học, vài nhánh cụ thể của toán học và sinh học, nhưng trong cuộc Cách mạng khoa học bắt đầu từ thế kỷ 17, các môn khoa học tự nhiên nổi lên như các ngành nghiên cứu riêng độc lập với nhau.
Vật lý học giao nhau với nhiều lĩnh vực nghiên cứu liên môn ngành khác nhau, như
vật lý sinh học và hóa học lượng tử, giới hạn của
vật lý cũng không rõ ràng.
Các phát hiện mới trong
vật lý thường giải thích những cơ chế cơ bản của các môn khoa học khác đồng thời mở ra những hướng nghiên cứu mới trong các lĩnh vực như toán học hay triết học.
Vật lý học cũng có những đóng góp quan trọng qua sự tiến bộ các công nghệ mới đạt được do những phát kiến lý thuyết trong
vật lý. Ví dụ, sự tiến bộ trong hiểu biết về điện từ học hoặc
vật lý hạt nhân đã trực tiếp dẫn đến sự phát minh và phát triển những sản phẩm mới, thay đổi đáng kể bộ mặt xã hội ngày nay, như ti vi, máy vi tính, laser, internet, các máy móc dân dụng, hay vũ khí hạt nhân; những tiến bộ trong nhiệt động lực học dẫn tới sự phát triển cách mạng công nghiệp; và sự phát triển của ngành cơ học thúc đẩy sự phát triển phép tinh vi tích phân.
Hình 2: Nguồn gốc ra đời và sự phát triển của Vật Lý là gì? Vật lý cổ điển Vật lý cổ điển trở thành khoa học riêng khi người châu Âu cận đại sử dụng các phương pháp thực nghiệm và định lượng nhằm phát hiện ra các quy luật mà ngày nay gọi là các định luật vật lý. Johannes Kepler, Galileo Galilei và Isaac Newton đã phát hiện và thống nhất nhiều định luật chuyển động khác nhau.
Trong thời gian diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp, khi mà các thiết bị cần tiêu thụ nhiều năng lượng hơn, do vậy các
nhà vật lý đã tiến hành nghiên cứu và phát hiện ra những định luật mới của nhiệt động lực học, hóa học và điện từ học.
Vật lý hiện đại bao gồm thuyết lượng tử do Max Planck khai sinh và Albert Einstein với thuyết tương đối, và những người tiên phong trong cơ học lượng tử như Werner Heisenberg, Erwin Schrödinger, Paul Dirac và rất nhiều nhà khoa học lớn khác.
Vật lý hiện đại V
ật lý cổ điển nói chung nghiên cứu vật chất và chuyển động ở phạm vi mà con người có thể quan sát và tiếp cận hàng ngày, trong khi
vật lý hiện đại nghiên cứu hành trạng của vật chất và tương tác ở những khoảng cách vi mô và vĩ mô. Ví dụ,
vật lý nguyên tử và hạt nhân nghiên cứu vật chất ở cấp độ vi mô mà tại đó các nguyên tố hóa học được phân loại một cách cơ bản.
Vật lý hạt cơ bản nghiên cứu ở khoảng cách nhỏ hơn nữa về những thành phần cơ bản nhất của vật chất; nhánh vật lý này cũng được gọi là vật lý năng lượng cao bởi vì các nhà khoa học sử dụng máy gia tốc cho các hạt có năng lượng cao va chạm vào nhau để tìm hiểu hành trạng và tính chất của hạt cơ bản.
Hình 3: Vật lý hạt cơ bản nghiên cứu ở khoảng cách Ở thang khoảng cách vi mô này, những khái niệm thông thường theo trực giác hàng ngày không còn đúng nữa. Hai lý thuyết trụ cột của
vật lý hiện đại miêu tả các khái niệm về không gian, thời gian và vật chất khác với bức tranh miêu tả của
vật lý cổ điển.
Cơ học lượng tử miêu tả các hạt rời rạc, bản chất của nhiều hiệu ứng cấp nguyên tử và hạ nguyên tử, chi phối bởi nguyên lý bất định và lưỡng tính sóng hạt.
Thuyết tương đối miêu tả các hiện tượng xảy ra trong những hệ quy chiếu khác nhau chuyển động so với người quan sát; trong đó thuyết tương đối hẹp miêu tả các hệ quy chiếu chuyển động quán tính và thuyết tương đối tổng quát miêu tả hệ quy chiếu chuyển động gia tốc và tương tác hấp dẫn là do độ cong của không thời gian.
Cả lý thuyết lượng tử và thuyết tương đối đều có nhiều ứng dụng trong mọi ngành của
vật lý hiện đại và trong đời sống hàng ngày như laser, máy tính hoặc GPS.
Kết Luận: "Vật lý học".Tiếng Anh có nghĩa
"Physics", từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là
"kiến thức về tự nhiên" là một môn khoa học tự nhiên tập trung vào sự nghiên cứu vật chất và chuyển động của nó trong không gian và thời gian, cùng với những khái niệm liên quan như năng lượng và lực.
Vật lý ra đời từ rất lâu giúp con người giải thích những hiện tượng xuất hiện trong cuộc sống một cách khoa học và rỏ ràng nhất.

Xem thêm chuyên mục:
Blog Kiến Thức
Sau bao lần thiết kế Website tại các đơn vị khác không vừa ý vì không làm được chức năng đặt hàng và giao nhận hàng cho tôi. Tôi tìm đến VietWeb làm việc trực tiếp CEO VietWeb, tôi rất ưng ý vì bạn ấy rất nhiệt tình tư vấn cho tôi. Kỹ thuật VietWeb chăm sóc tôi rất tận tình làm website để tôi đi vào hoạt động trong 5 năm qua. Cảm ơn các bạn!